Kế toán quản trị – Tầm quan trọng và khả năng áp dụng đối với các DNVN
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học của Đỗ Lương Trường được thực hiện năm 2006. Dựa trên cơ sở khảo sát một số doanh nghiệp trên địa bàn TPHCM, Hà Nội và các khu vực lân cận để nghiên cứu thực trạng và khả năng vận dụng Kế toán quản trị. Đề tài nhằm mục đích hệ thống lại kiến thức kế toán quản trị, vẽ nên thực trạng hệ thống kế toán quản trị hiện tại, đồng thời cung cấp cách thức xây dựng hệ thống kế toán quản trị cho một số loại hình doanh nghiệp tiêu biểu .
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt lịch sử, KTQT đã hình thành và phát triển cách đây khá lâu và trở thành một môn khoa học kinh tế mang tính ứng dụng cao ở hầu hết các quốc gia phát triển. KTQT là thuật ngữ mới xuất hiện ở nước ta trong vòng 15 năm trở lại đây. Tuy nhiên, nó đã thu hút sự chú ý đặc biệt của các nhà quản trị, phá vỡ phương pháp làm việc và tư duy nghề nghiệp của các kế toán viên khi đổi mới cơ chế quản lý kinh tế hiện nay.
Để tồn tại và phát triển thích ứng với nền kinh tế thị trường, các DN phải tìm cách đối phó với những cạnh trạnh khốc liệt từ các DN khác, nhất là giai đoạn nền kinh tế Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế Thế Giới. Do vậy, nhu cầu thông tin cho quản lý là không thể thiếu được. Tuy nhiên, việc cung cấp thông tin cho yêu cầu quản trị ở các DN Việt Nam hiện nay nói chung và các DN có vốn đầu tư trong nước nói riêng còn rất yếu kém. Các quyết định thường mang tính kinh nghiệm, ít dựa vào cơ sở khoa học. Nguyên nhân là do tổ chức kế toán chưa thể phát huy một cách tốt nhất chức năng thông tin và kiểm tra của mình. Các báo cáo kế toán còn mang nặng tính thủ tục, chậm trễ trong việc cung cấp thông tin.
Trước những đòi hỏi khắc khe của nền kinh tế thị trường, việc áp dụng KTQT để nâng cao hiệu quả quản lý cho các DN Việt Nam là một vấn đề mang tính thời sự cần thiết hiện nay. Tuy nhiên, việc tìm hiểu, nhận thức và vận hành KTQT trong các DN rất khác nhau. Hầu hết các DN đều không tồn tại hay không hiểu biết về KTQT, mặc dù, khái niệm KTQT và yêu cầu phải tổ chức KTQT ở các đơn vị kế toán – trong đó có DN sản xuất – đã được luật hoá. Luật Kế toán Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà XHXN Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn vị như sau : KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán. Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát. Do đó việc hiểu và vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam còn rất mơ hồ.
Hơn thế nữa, khái niệm kế toán của các DN từ trước đến nay cũng chỉ đề cập đến yếu tố kế toán tài chính, mặc dù hệ thống kế toán DN Việt Nam vẫn có những biểu hiện nhất định về KTQT.
Ông Lê Văn Bình – trưởng phòng tài chính kế toán – tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam đánh giá về vai trò KTQT đối với công tác quản lý trong DN: “Phát huy tốt vai trò của KTQT đối với công tác quản lý nội bộ của DN, đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời tình hình kinh doanh và biến động tài sản, nguồn vốn trong các DN, giúp lãnh đạo DN có những quyết sách đúng đắn về chiến lược, chiến thuật và kế hoạch kinh doanh cho DN”
Trên thực tế, các DN có vốn đầu tư trong nước sử dụng thông tin kế toán cho mục đích quản trị còn rất hạn chế. Việc hoạch toán vẫn mang tính hình thức, đối phó. Mọi sự tập trung vẫn dành cho chế biến số liệu để có được báo các tài chính tốt nhất, DN giảm được thuế phải nộp. KTQT ở nước ta hiện nay vẫn chưa được quan tâm đầy đủ, tương xứng với vị trí và vai trò của nó trong quản trị DN.
Trong điều kiện nền kinh tế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, nếu chỉ bằng kinh nghiệm của mình các nhà quản trị khó có thể kiểm soát và đánh giá được hoạt động của từng bộ phận trong DN. Các DN cần phát triển quy mô lớn, đa dạng hoá sản phẩm, hoạt động trong phạm vi rộng để hạn chế rủi ro và đủ sức cạnh tranh với các DN nước ngoài. Ngay từ bây giờ, các DN Việt Nam cần nghĩ đến chiến lược phát triển lâu dài, xem KTQT là công cụ không thể thiếu để thực hiện quản trị DN một cách bài bản mới có thể hy vọng không bị xóa sổ khỏi “cuộc chơi”.
2. Xác định vấn đề nghiên cứu
Như được trình bày ở trên, nhu cầu cấp thiết phải nhìn nhận lại hệ thống KTQT cho đúng tầm vóc của nó. Nhận dạng những vấn đề tồn tại để tránh nhầm lẫn giữa các hình thức kế toán, phương pháp kế toán cũng như các chế độ chứng từ sổ sách.
Từ việc nhìn nhận lại vai trò của KTQT, nhận dạng để phân tích tìm ra nguyên nhân tại sao đa phần các DN Việt Nam không áp dụng nó mặc dù việc áp dụng này sẽ mang lại lợi ích kinh tế rất lớn. Sau khi tìm hiểu nguyên nhân ta sẽ tìm cách khắc phục. Xét tổng quát những hạn chế có thể khắc phục và không thể khắc phục để có thể nhận định có nên áp dụng KTQT cho các DN Việt Nam giai đoạn này hay chưa? Nếu áp dụng thì nên ở mức độ nào?
3. Câu hỏi và mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Để có thể giải quyết được vấn đề cần nghiên cứu trên đây nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của đề tài là xác định KTQT là gì. Các câu hỏi cho phần này như sau:
KTQT có ý nghĩa như thế nào trong công cuộc đổi mới kinh tế đất nước.Các văn bản pháp lý xoay quanh thuật ngữ KTQT như thế nào? Quy định ban hành áp dụng hệ thống KTQT ra sao?
KTQT có vai trò và chức năng ra sao? Có cần thiết và quan trọng đối với các DN không? Phân biệt KTQT và kế toán tài chính, ranh giới giữa chúng ra sao? KTQT có bao hàm kế toán chi phí không? Tổ chức hệ thống KTQT ra sao? Công việc của KTQT như thế nào?
Nhu cầu và khả năng vận dụng KTQT cho các DN Việt Nam hiện nay ra sao, xét về cả hai phương diện lý luận và thực tiễn?
Nhiệm vụ quan trọng tiếp theo là từ việc nhận định tổng quan, khả năng vận dụng và tình hình thực hiện KTQT ở các DN Việt Nam; tìm ra cách khắc phục những trở ngại trong việc vận dụng KTQT vào thực tiễn công cuộc đổi mới đất nước. Các mục tiêu cụ thể cho nhiệm vụ này như sau:
- Hệ thống hóa những quyết định các nhà quản trị DN phải đối phó.
- Hệ thống hóa mô hình KTQT cho loại hình DN vừa và nhỏ.
- Nghiên cứu cách thức ứng dụng KTQT cho các DN nói chung.
- Tổ chức sắp xếp lại công tác kế toán nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao hơn cho các DN.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đây là đề tài nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra những nhận định có tính chất cụ thể về KTQT và tình hình quản lý, sử dụng các báo cáo cho mục đích quản trị. Như đã đề cập trong phần mục tiêu nghiên cứu, trước hết đề tài nghiên cứu này sẽ khảo sát thực tiễn mức độ hiểu biết cũng như tình hình vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam. Kế đến sẽ phân tích những lợi ích mà việc tổ chức KTQT mang lại. Cuối cùng sẽ đánh giá khả năng vận dụng KTQT vào các DN trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, đề tài này sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau nhằm tận dụng tính chất hợp lý và tính ưu việt của từng loại phương pháp nghiên cứu khoa học.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp được sử dụng để nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm đặt nền tảng cơ sở cho những lý luận sau này về khả năng úng dụng KTQT ở các DN Việt Nam. Phương pháp này được sử dụng để xem xét, tìm tòi, hệ thống hoá và tóm tắt tất cả nhũng kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài này đã tiến hành trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó, hiểu được các nhà nghiên cứu đi trước đã có những đề tài nghiên cứu nào, kết quả ra sao để có thể sử dụng hoặc bổ sung cho đề tài nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu sơ cấp cũng được sử dụng nhằm thu thập và phân tích các thông tin liên quan đến thực trạng, những nhận định và tình hình vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam. Để thu thập dữ liệu sơ cấp phục vụ cho đề tài nghiên cứu này, một cuộc khảo sát về việc thực hiện KTQT ở 20 DN vừa và nhỏ đóng trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai được tiến hành trong năm 2005. Ngoài ra còn có 4 cuộc phỏng vấn trực tiếp giám đốc và kế toán trưởng được tiến hành đầu năm 2006 và một cuộc khảo sát 6 DN trong số 20 DN đã khảo sát năm 2005 để kiểm tra những thay đổi trong công tác kế toán, có những điểm gì khác so với trước. Danh sách công ty tham gia trả lời phỏng vấn được liệt kê ở phụ lục số 1. Dựa vào những cuộc khảo sát trên ta có thể rút ra kết luận về thực trạng áp dụng KTQT ở các DN Việt Nam hiện nay.
5. Nội dung nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu này được trình bày thành 4 chương. Chương 1 giới thiệu và trình bày những vấn đề liên quan đến phương pháp luận trong nghiên cứu. Vấn đề cơ sở lý luận liên quan đến đề tài sẽ được trình bày ở chương 2. Chương này sẽ giới thiệu chi tiết về KTQT, phân biệt KTQT và kế toán tài chính để tránh nhầm lẫn trong công tác kế toán, đồng thời cũng mô tả các nội dung chủ yếu của KTQT để các DN có hướng vận dụng. Chương 3 là chương quan trọng nhất đánh giá toàn bộ về việc vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam. Chương 4 sẽ đề xuất một số kiến nghị trong thời gian sắp tới cho công tác xây dựng KTQT ở Việt Nam
6. Ý nghĩa, ứng dụng và hướng đi mới của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này rất quan trọng về mặt khoa học lẫn thực tiễn. Về mặt khoa học, đề tài này góp phần chắt lọc và hoàn thiện hơn về hệ thống KTQT. Vấn đề về KTQT đã được trình bày rất nhiều trong sách giáo khoa và các đề tài nghiên cứu khác, nhưng làm thế nào vận dụng trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam? Đề tài nghiên cứu giúp đưa ra một số mô hình cụ thể cho các DN Việt Nam – DN vừa và nhỏ.
Về mặt thực tiễn, đề tài này cung cấp cho các nhà quản trị những nhận thức về KTQT và tầm quan trọng của nó. Qua đó, có thể vận dụng cho DN mình nhằm cải tạo lại hệ thống kế toán để mang lại lợi ích kinh tế cao hơn, giảm thiểu hóa chi phí. Đồng thời, đề tài còn là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách pháp luật (Bộ tài chính, Chính phủ, …) tham khảo. Từ đó có thể ban bố các thông tư, nghị định hướng dẫn cho phù hợp với thực tiễn với việc vận dụng KTQT ở các DN Việt Nam hiện nay.
|
|
Link download : KTQT- Tam quan trong ap dung cho DNVN Điểm: 100 VFP Ngày đăng: 06/05/2010 Số lượt tải: 15 Mô tả: Cong trinh nghien cuu khoa hoc
|
438 lượt xem, 1 ngày
Chia sẻ cho bạn bè
Bài khác nên xem
Từ khóa cho tài liệu
-
Ôn thi KTV
Đấu thầu
Đầu tư
Đầu tư phát triển
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đề cương luận án
Đề cương luận văn
Định vị sản phẩm
Access
ASEAN
Bán hàng
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng cân đối kế toán
Bảo hiểm
Bảo hiểm nhân thọ
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Bắc Giang
Bộ Kế hoạch và Đầu Tư
Bộ thương mại
Biện pháp Marketing
Công nghiệp
Công ty cổ phần đầu tư phát triển công nghệ
Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện
Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex
Công ty cổ phần Chữ Thập Đỏ
Công ty cổ phần vật tư bảo vệ thực vật Hoà Bình
Công ty Cao su Sao vàng
Công ty Giầy Thượng Đình
Công ty vận tải thủy Bắc
Cấu trúc vốn
chính sách tiền tệ
Chiến lược sản phẩm
Dệt may
day con lam giau
Eureka
excel
FDI
FDI Đồng Nai
Font chữ
font VNI
FPT
Giá thành sản phẩm
Giải pháp
Giải pháp Marketing
Giấy
Hàng may mặc
Hà Tây
Hạch toán kế toán
Hiệu quả đầu tư
huy động vốn
Kênh phân phối
Kế toán chi phí
Kế toán chi phí sản xuất
Kế toán giá thành
Kế toán kết quả hoạt động kinh doanh
Kế toán nguyên vật liệu
Kế toán sản xuất
Kế toán tài sản cố định
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Kế toán thành phẩm
Kế toán tiền lương
Kế toán vốn bằng tiền
Khả năng cạnh tranh
Kiểm toán báo cáo tài chính
Kiểm toán Hàng tồn kho
Kinh doanh xuất khẩu
kinh tế
Kinh tế Đầu tư
Lãi suất
Lạm phát
mô hình
Marketing
Marketing – mix
Marketing hỗn hợp
Nước khoáng
Ngân hàng
Ngân hàng Nông nghiệp
Nghiệp vụ bảo hiểm
Nhựa Đạt Hòa
NHNo
Nosco
Petrolimex
Phát triển thị trường
Phân phối sản phẩm
PJICO
PTI
quản lý
sale
SJC Ban Co
Tài sản cố định
Tín dụng Ngân hàng
tăng trưởng
Tổ chức hạch toán thành phẩm
Tổ chức kế toán
Tổng công ty chè Việt Nam
tự do hóa lãi suất
Thùy Linh
Thẻ thư viện
Thị trương nội địa
Thị trường EU
Thủ công mỹ nghệ
Thực trạng
Thực trạng và giải pháp
The gioi phang
thu hút vốn
Tiêu thụ sản phẩm
tiêu thụ thành phẩm
Truyện của Keng
Vĩnh Long
Vụ Quản lý dự án đầu tư nước ngoài
Vụ Tổng Hợp Kinh Tế Quốc Dân
Việt Nam
VINA RECO
Vinatea
Visual Basic
word
Xây dựng
Xã hội
Xuất khẩu

